Cụ Ngô Hùng Diễn (thầy bói Diễn) – Thầy tướng nổi danh một thời

Ngô Hùng Diễn
BÀ NGÔ THỊ DẪN KỂ VỀ CỤ NGÔ HÙNG DIỄN

Các địa chỉ mà Thày đã ở tại miền Nam Việt Nam

1953-1954: số 4C đường Hiền Vương, quận I, Saì Gòn

1955-1956: số 3 đường Trần Kế Xương, Bình Hòa, Gia Định

1957-1959: số 32 đường Hiền Vương, quận I, Sài Gòn

1960- 1974 (năm Thày mất): 45A/5 đường Hiền Vương, quận I, Sài Gòn

Không bao giờ Thày nói cho vợ con biết là hôm nay Thày đi đâu, xem cho ai. Về y phục thì cậu đã biết rồi, về các món ăn thì có món dù cả nhà chê Thày vẫn khen ngon đấy chứ. Theo Thày thì Trời đã cho mình ăn thì bất cứ món nào cũng không được chê. Thày rất sợ mỗi khi có người nhờ xem sau đó mời ăn cơm. Thày rất vui khi ăn cơm chung với bạn bè. Ở nhà thì Thày thích nhất là món cá ma

Thày thấy ai có chuyện thì Thày khuyên bảo chứ không nhất thiết phải nhờ Thày mới nói. Trong bữa cơm khách nhiều khi người chủ đứng ra mời chả được Thày nói cho câu nào cả. Thày coi mọi người ngang hàng nhau. Bạn bè, người thân và ngay cả con cái người thân Thày thường xưng “moi, toi – tiếng Pháp. Người lạ thì ai Thày cũng đều gọi là “Tiên Sinh” dù là Thủ Tướng hay người Binh Nhì. Đối với Thày thì mọi người đều bình đẳng như nhau.

Khi còn trẻ Thày uống rượu rất nhiều. Mà toàn là rượu mạnh, như rượu đế (một loại rượu cất từ gạo tẻ, nồng độ rất cao, có khi tới 90 độ), rượu Cognac (rượu của Pháp). Buổi sáng, vừa thức dậy, dù chưa ăn uống gì, Thày đã uống cả “xị” đế (xị tương đương với một ly lớn). Về già Thày bỏ rượu mạnh và uống “bia”. Mỗi ngày Thày uống cả chục chai bia. Khi Thày khoảng 60 tuổi thì Thày chỉ uống một vài chai bia hoặc một ly vang đỏ khi ăn cơm tối với bạn bè còn thì chỉ uống nước trà hoặc nước ngọt. Thày uống rất nhiều nước và thường dùng những ly hoặc cốc lớn và rót thật đầy ly. Chị nghe nói lúc trẻ, vui anh vui em, Thày có hút thuốc phiện, nhưng sau đó sợ và nể vợ nên Thày thôi không hút nữa. Khi Thày còn trẻ Thày hay “nói thẳng”. Thày hút thuốc lá tự khi còn trẻ cho tới khi qua đời. Thuốc nào Thày cũng hút, đen hay thơm cũng vậy. Có khi Thày xé nhỏ thuốc lá Gò Vấp (loại thuốc rẻ tiền và rất nặng), trộn chung với thuốc lá thơm như “555” hay “Craven A” rồi dùng “pipe” để hut.

Trong nhà, Thày thường bảo anh chị không bao giờ nên mắng các cháu. Mắng chúng vô lý, chúng cãi lại, chúng sẽ mang tội bất hiếu. Thày không muốn nghe thấy cha mẹ, ông bà nhiếc móc con cháu. Thày rất sợ gặp hay nói chuyện với những người ăn nói hợm hĩnh, kiêu căng, khinh người, rẻ của.

Thày hồi trẻ có vẽ, hiện ở nhà còn giữ được hai bức tranh, một bức tranh Phật trông rất linh động, và một bức vẽ cảnh trước chợ Đồng Xuân ở Hà-Nội. Thày còn vẽ một bức tranh Phật nữa. Bức tranh này được để trong một cái tháp ở sân sau một chùa Tầu và hẹn là 500 năm sau sẽ được mở ra. Chùa này tên là Huê (Hoa) Nghiêm, số 187/3 đường Trần Kế Xương, Bình Hòa, Gia Định.

Chưa bao giờ thấy Thày chê những thày tướng, thày số khác. Thày luôn nói: “Họ nói đúng đấy, nhưng . . . “ Tiếng “nhưng” của Thày dùng để Thày làm rõ thêm câu chuyện cho người nghe, hoặc để Thày khuyên người nghe.

Nói về Thần Hoàng Bản Thổ Thày giảng: Ở đâu cũng có Thổ Thần. Nhà mình xây thì là nhà mình, còn đất thì mình ở nhờ các Ngài; do đó chủ nhân phải biết đến các Ngài mà cúng thì gia đình sẽ có sự bình an.

Ông bà nội kể cho chị là khi còn nhỏ bố mày biếng nhác, chơi bời lêu lổng, đâu cũng là nhà, ngã đâu cũng là giường. Ngủ thì nghiến răng kèn kẹt. Có hôm bố mày ở nhà một gia đình quen ở Hải Dương, bố mày nghiến răng đến nỗi chủ nhà tưởng con gì kêu, thắp đèn đi kiếm khắp nhà. Bố mày rất lười tắm, phải giục mãi mới chịu tắm. Mà tắm thì lại kỳ cọ rất lâu. Có điều lạ là ít tắm mà bố mày vẫn không hôi. Thày luôn làm phiền lòng các Cụ. Không khuôn phép nào ràng buộc được. Thày ăn mặc thì lôi thôi, lếch thếch. Có lần còn lấy bí-tất chân làm bí-tất tay nữa. Đầu nhiều khi quấn khăn như đàn bà. Nhiều khi đi đứng thì vặn vẹo như lươn, như rắn, có khi lại lắc lư. Toàn là tật xấu, nên trong nhà đặt tên cho Thày là “thằng Ngộ” – Ngộ đây có nghĩa là “điên” đấy. Tuy nhiên, Thày cũng có một vài tính tốt; như là lòng thương người của Thày. Ông bà kể: Bố mày tao cho đi học xa, trọ tại nhà ông ký Châu ở Hải Phòng. Tao sắm cho đầy đủ chăn màn, giầy dép, . .. , Bố mày đem bán hết để giúp ký Châu vì thấy gia đình nó nghèo quá. Có lần nó về thăm nhà mà đi chân đất. Ông nội thở dài: Thế là lại phải đi mua cho no

Tuy kể cho chị nghe về những tính xấu của Thày, nhưng ông bà cũng rất hãnh diện có một người con “xem tướng như thần”, mặc dù lúc đó Thày chỉ mới nổi tiếng trong làng, xã và chỗ bạn bè xa gần. Nhà lúc nào cũng có người ngồi chờ để nhờ Thày xem cho. Thày chỉ xem giúp mà không lấy tiền của ai cả. Hồi đó Thày xem khác sau này. Thày xem tay nhiều hơn là xem tướng diện. Thày xem tay phải rồi mới xem tay trái. Thày lật lên, lật xuống, nhiều khi còn lấy cuống chiếu đo nữa. Chị Dẫn nghe kể lại, Thày có xem cho một người bạn thân của Thày là bác Lân ở Hải Phòng, Thày bảo: “Anh có tướng bất đắc kỳ tử. Anh phải kiêng không được đi đêm trong vòng ba tháng.” Ông ta không tin, vẫn đi đánh tổ-tôm khuya mới về. Có lần đi chơi khuya về, Ông đi giữa hai người bạn, thình lình bị rắn độc cắn chết ngay tại chỗ. Những chuyện như vậy đã làm cho Thày nổi tiếng.

Khi “danh tiếng” của Thày đến tai một vị Tuần Phủ trông coi tỉnh Quảng Yên, nơi đại gia đình chị ở, tên là Cung Đình Vận. Ông này khét tiếng là ghét Việt Minh. Những người Ông nghi đều bị tra tấn rất dã man. Chính Ông đi tuần quanh tỉnh và thường đi qua làng chị. Một hôm chị thấy có một ông quan cưỡi ngựa dừng lại trước cổng nhà ông chị. Hỏi ra mới biết là quan Tuần Phủ Cung Đình Vận. Ông ta cho lính vào gọi Thày ra, nhưng Thày đi vắng nên ông nội chị ra. Vẫn ngồi trên ngựa, ông bảo ông nội chị: Cụ Quản có ông con trai coi tướng tài lắm, khi nào ông ấy về nhớ bảo ông ấy tới dinh tôi nhé. Ông nội chị lúng túng nói gì chị không nghe rõ. Ông Tuần Phủ đánh ngựa bỏ đi không thấy nói gì nữa. Không biết sau đó ông ta có đến nữa không, chỉ biết sau đó ông ta dùng “trát” đòi Thày tới hầu. Chị chả biết trát là gì, chỉ thấy khi nhận được trát đòi, Ông nội chị có vẻ lo sợ lắm. Khi Thày về ông nội bảo: “Diễn ơi! Mày không vào hầu nó là mày giết cả nhà đó. Nó là Quan Tuần mà tao chỉ là thằng Quản về hưu. Nó thù nó vu cho gia đình này là Việt Minh thì chết cả lũ.” Chị nghe thấy Thày trả lời ông nội: “Con có tội gì mà nó đòi bằng trát! Con không tới để xem nó làm gì con.” Thày vẫn đi đi, về về bất thường như trước. Ông nội chị sợ quá, nhất là sợ cho ông con “bất kham” này. Không biết “tướng tinh” của Thày ra sao, chỉ biết là không những ông Cung Đình Vận đã không thù Thày, mà chỉ cho người theo dõi đường đi nước bước của Thày. Rồi một hôm khi Thày ở tỉnh về thăm nhà, vừa bước lên đò thì ông cưỡi ngựa tới và Thày đã về dinh với ông ta. Chị không biết chuyện gì xẩy ra sau đó: Thày có xem cho ông ta hay không? Chỉ biết là sau đó ông ta còn mời Thày vào dinh một hai lần nữa.

Từ khi còn trẻ, Thày nể hay thích ai là do tình cảm cá nhân, chứ quyền hành chức vị đối với Thày không quan trọng lắm.

Khi Thày còn ở Quảng Yên thì nhiều người gọi Thày là “Thày Bói Diễn”, có người còn gọi Thày là “Thày Ma Xó”. Mãi tới khi gia đình chị dọn ra Hà Nội lúc đó người ta mới gọi Thày là “Thày Tướng Diễn”. Cũng vì từ khi lên Hà Nội, khi xem cho ai ít khi Thày cầm tay nữa mà chỉ quan sát người đó rồi nói về tướng của người đó hoặc trả lời câu hỏi của người đó.

Thày đi về bất thường. Gặp bữa thì ăn. Không gặp bữa thì còn gì ăn nấy. Không bao giờ chị nghe thấy Thày than phiền hay đòi hỏi gì về chuyện ăn uống cả

Có một thời gian Thày đi biệt tăm suốt hơn hai năm trời. Gia đình đều lo sợ, nhưng không ai dám nói là “chết”. Khi Thày về, Thày cũng chả cho ai biết là Thày đã đi đâu

Trong thời gian chiến tranh giữa Việt Minh và Pháp, gia đình luân lạc tới làng Hạ Lễ, tất cả dân làng này đều theo đạo Thiên Chúa. Thày chẳng hiểu luật lệ, ất giáp gì hết, dân làng ai đến nhờ xem tướng Thày đều xem cho hết. Dân làng náo động lên. Sự việc đến tai cha Xứ. Cha đến tận nhà thày mẹ chị đang ở nhờ. Chả hiểu cha nói gì, chỉ biết là kể từ hôm đó Thày không xem cho ai nữa. Thày vẽ một bức tranh “Chân Dung Chúa” to như người thật để tặng nhà thờ. Bức tranh được cha Xứ treo ngay giữa nhà thờ. Trong buổi lễ treo tranh “Chân Dung Chúa”, gia đình chị đều quì trước Chúa. Gia đình chị tiếp tục ở lại làng Hạ Lễ cho tới khi “dinh tê” về lại Hà-Nội. Lúc ra đi cha Xứ làm lễ tiễn, cầu nguyện Chúa ban ơn lành cho gia đình chị về được bình yên. Dân làng đi tiễn, có người còn khóc nữa. Dân làng này có thói quen trùm khăn trắng, nên khi nhìn lại chị tưởng như là “họ đang đi đưa đám ma” vay.

Trong thời gian ở Hạ Lễ, Thày chuyên vẽ “hí họa”, nghĩa là người có “tướng” con thỏ thì thày vẽ họ như con thỏ, rồi người có “tướng” chim, khỉ, cọp. Khi về đến Hà-Nội thì Thày lại vẽ được ba, bốn bức tranh “Phật” nữa. Thày cho ai thì chị không biết, chỉ còn lại một bức “Đức Quán Âm” hiện còn đang treo tại nhà anh chị.

THI SĨ HOÀNG PHONG LINH MỪNG THỌ CỤ NGÔ HÙNG DIỄN

Bao năm gót rỗ giang hồ Không màng danh lợi, cơ đồ hư không Trầm luân xem tựa lông hồng

Lãng du trọn kiếp, bềnh bồng Bắc Nam

Quỳnh Dao mượn chén mạn đàm Gẫm xem thế sự thăng trầm đôi phen Nhìn kẻ lạ, ngắm người quen

Nhân tình thay đổi trắng đen tỏ tường

Lục thập lục niên trường

Tóc xanh thành tuyết sương

Lòng xưa vẫn một đài gương chẳng mờ!

Nhớ khi tuổi còn thơ Phong ba đã đón chờ Chợ Đời chen nhóm hội Vai quẩy đầy gánh mơ. Tay bút họa, tay đề thơ,

Mắt xanh khinh bạc đường tơ nẻo tình

Hẹn lòng thỏa chí phiêu linh Dặm xa dong ruổi bình sinh một thời Bốn biển đón mời

Năm Châu quyến rũ

Trên cánh thời gian mặc đời phong vũ Ao sờn vai, lòng vẫn nhủ chân đi Lệnh trời: gọi tiếng tiên-tri

Vị lai, quá khứ, số ghi nhiệm màu!

Gió sương giờ đã bạc đầu Dừng chân tạm nghỉ bên cầu thế gian Đời ai bóng chả xế tàn

Bình minh rồi cũng ác vàng về Tây

Miễn sao men rượu còn đầy Phù du là khói còn ngây ngất hồn Bao nhiêu kỷ niệm dập dồn

Sáu mươi năm lẻ, biển cồn dâu xanh Mặc ai khuynh quốc khuynh thành Mặc ai phù thế công danh chợ Đời Ta theo mệnh Trời

Ngoài tai thế sự.

Ngày tháng thong dong kết tình quân tử Lòng thủy tinh vào Hội Vô Vi Bá Nha đàn nhớ Tử Kỳ

Đời vui vì lụy chút tri kỷ này

Tầm Dương ai dạo khúc dây

Cho ta xuống ngựa, khoang đầy tình trăng

Ta nhớ Cung Hằng

Tiền thân trôi dạt Đời khen ta Gia Cát Nhưng ai là Lưu Công?

Giang sơn tám ngã phiêu bồng

Tóc xanh rồi cũng trổ bông tuyết đầy

Trích Tiên dương thế lưu đày

Vì xưa chén ngọc – lỡ tay xuống trần!

Nhìn xem cơn lốc xoay vần Trả xong cơm áo nợ nần phù sinh Đời ai nhục, ai vinh

Ai công hầu, khanh tướng

Ai trầm luân quay trong vòng ảo tưởng Riêng mình ta ngày tháng tiêu dao! . . Mắt xanh tìm kẻ anh hào

Thiên cơ màu nhiệm gởi trao đôi lời

Dẫu tài hoa, cũng một thời Bức tranh vân cẩu vẽ đời phù du Vó câu qua cửa thoáng vù

Cành xuân tươi đến cuối Thu cũng tàn

Lợi danh không màng

Giàu sang chẳng mộng

Mặc cho ai cờ bay trướng lộng Ngựa xe thành quách nghênh ngang Ta vui không biết cơ hàn

Lòng như cánh bướm nhẹ nhàng tung bay

Hoàng Hoa đầy chén ta say Men đời pha trộn càng cay càng nồng Trần gian này chốn hư không

Nhớ Quần Tiên Hội cõi lòng bâng khuâng

Nào đâu Vương Đạo, Minh Quân Ta mơ Khương Tử lòng xuân tuổi già Thuyền câu sông Vị ta ca

Ước mong thiên hạ thái hòa Thuấn Nghiêu

Này ly rượu thọ còn nhiều Nương thời gian, nhẹ cánh diều ta bay Một đời say tỉnh, tỉnh say

Nam Kha tròn giấc đầy tay bướm vàng Cung Trăng nhớ thuở Minh Hoàng Quí Phi mặt ngọc phượng loan phỉ tình Dừng chân nghỉ bước phiêu linh

Rồi mai xin hẹn bình sinh với Đời

Non sông sẽ cất tiếng mời

Làm cây cổ thụ giữa trời vươ cao . .

ÔNG HOÀNG PHÚC HÀI ĐIẾU TANG CỤ NGÔ HÙNG DIỄN

Thiên thu bi vĩnh biệt

Dã hạc dữ cô vân Anh phong nhi uyển tại Kết đắc nhất sầu nhân

Ô hô!

Chữ Cửu chi giao dư chấp niên Đình vân nhất khúc ký tâm điền Hư danh vị đắc Nam Kha mộng Chân Đạo diên trì khách tịch biên Mệnh đặng hồng mao quân vị liệu Tình như hải để ngả nan phiêu

Cựu du hà xứ tiêu hồn lộ

Đàn chỉ quan âm hận biến thiên

Một lìa ai oán ngàn năm Hạc quê mây bạc mất tăm chốn nào Gương xưa đức hạnh dường bao

Kết sầu kẻ ở, nghẹn ngào nhớ mong

Than ôi!

Hai chục năm dư vẹn tấc lòng

Thơ đề một khúc lệ sầu đong Hồn không để bận vòng Danh lợi Đạo chẳng hề nhơ đất Cửu Long Bạn có ngờ đâu thân phận mỏng Tôi không chép hết nghĩa tình nồng Đường về chốn cũ hồn mê loạn

Bỗng chốc tang thương hận chập chồng

Hoàng Phúc Hải

Ai điếu

ÔNG NGUYỄN MẠNH HÙNG KHÓC CỤ NGÔ HÙNG DIỄN

Băm mấy năm trời Cụ nổi danh

Tiên tri thần diệu khắp kinh thành Ba miền nước Việt, Trung, Nam, Bắc Cụ đã lưu ân dữ hóa lành

Hỡi ơi !!! Tạo hóa quyền vô hạn Chẳng để nhân gian kiến bạc đầu Một trang quán thế tài tri mệnh Thần Tướng lưu danh Quỉ Cốc Sầ

THI SĨ MẠNH HOÀNG QUÂN KÍNH ĐIẾU CỤ NGÔ HÙNG DIỄN

Kính lạy vong hồn Cụ, trước linh cữu tiếc thương!

Bẩy ngọn nến đìu hiu dưới nắng!

Nghĩa trang này hiu hắt, ngậm ngùi vĩnh biệt tiễn Người đi

Trời cuối Xuân! Bao nhiêu dòng lệ đổ! Lá úa cây vàng khóc Người về thiên cổ

Trời cuối Xuân! Người về đâu vội vã Thế giới bên này thương tiếc quá Người ơi! Những vòng hoa cũng héo hắt ngậm ngùi Giờ vĩnh viễn đưa người vào địa mộ

Tôi cúi mặt tiễn Người không còn nữa Kiếp phù sinh về với nghĩa trang này Thôi thế âm thầm hồn phách với cỏ cây Với trăng gió ngàn thu Người vĩnh biệt

Người hỡi ! Từ đây cách biệt rồi Người về thiên cổ quá xa xôi Người đi không hẹn ngày trở lại Để cố nhân sầu thương xót ôi !!!

Người đã đi rồi để lại đây

Trần gian hiu hắt lá cây gầy Nắng mưa hai buổi đường cô quạnh Ai đón đưa Người mai mốt đây

Con xin Đức Phật quyền vô hạn Hãy dắt đưa Người đến cõi an Để thỏa lòng con hằng ước nguyện

Được thấy Người du cõi Niết Bàn

ĐẶT SÁCH NGAY

Tuong Phap Ngo Hung Dien (Ebook For PC, Mobile, Kindle): http://www.tusachcuaban.net/san-pham/tuong-phap-ngo-hung-dien/

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s